Bác sĩ Gabor Maté được chẩn đoán mắc chứng AD(H)D khi ông bước sang tuổi 50. Cuộc sống xung quanh ông xuất hiện những cơn nóng giận bột phát, xung đột trong cuộc hôn nhân và cách hành xử kiểu “Jekyll và Hyde” với các con. Khi tra cứu, thông tin về căn bệnh đều được giải nghĩa (phần nào đó) tường tận về mặt y học nhưng như vậy là chưa đủ - chưa đúng từ phía Maté. Nhìn đâu đâu trong xã hội hiện đại, những biểu hiện như lơ đãng, tâm trí nhảy nhót khắp nơi, có thể tăng động và khả năng kiểm soát xung động kém được “chẩn đoán” quá dễ dàng. Nhưng vì sao một người lại có biểu hiện đó lại ít được giải đáp, thậm chí là không khi ta dành sự tập trung phần lớn vào biểu hiện thay vì gốc rễ của vấn đề.
Dù các con số thống kê đó chính xác đến đâu, rõ ràng là trên khắp thế giới ngày càng có nhiều trẻ em, hay tất cả chúng ta phải vật lộn với những thách thức về sự chú ý, bất ổn cảm xúc, khó khăn trong học tập, làm việc và điều chỉnh hành vi. Thay vì là một bệnh di truyền, Rối loạn thiếu tập trung (ADD) là một khiếm khuyết hoàn toàn có thể hồi phục. Nó bắt nguồn từ căng thẳng gia đình nhiều thế hệ và điều kiện xã hội bất ổn trong một xã hội đầy áp lực. Khi tìm hiểu về những cuốn sách Tiến sĩ Maté viết, chúng tôi không tin rằng đây là một vị “bác sĩ” uyên bác hay một “người bạn” tâm giao chữa lành những gì đang khó khăn và cần gỡ rối. Có lẽ bởi ngay từ đầu, Gabor Maté đã viết bằng lòng thấu cảm sâu sắc với bệnh nhân, chân thành lan tỏa góc nhìn nhân đạo hơn về người bệnh và những định kiến, chính sách đang đi ngược với mục tiêu ban đầu của chúng. Ta thấy ấm lòng hơn, mong cầu thúc đẩy một xã hội tôn trọng, lòng nhân ái cùng cái nhìn toàn diện về chứng bệnh tâm thần thay vì những lời chẩn đoán vô thưởng vô phạt, là con mồi cho thông tin đầy rẫy ngoài kia.
Chúng tôi đã trích dịch một đoạn ngắn trong Phần 1 Chương 3 “We Could All Go Crazy”, mến mời bạn đón đọc!
“RỐI LOẠN THIẾU TẬP TRUNG (ADD) từng được gọi là “hiện tượng thời thượng của những năm chín mươi”. Việc chẩn đoán ADD ngày càng khiến nhiều người hoài nghi rằng căn bệnh này chỉ là một hiện tượng tâm lý mang tính nhất thời của xã hội hay thật sự là một triệu chứng tâm lý cần được quan tâm. Bởi lẽ các triệu chứng của ADD quen thuộc đến mức bất kỳ ai trong chúng ta, dù không hề mắc bệnh, cũng đều từng trải qua những biểu hiện đó ở một mức độ nào đó trong đời. Việc gộp một nhóm các đặc điểm tính cách vào một cuốn cẩm nang tâm thần học không nghiễm nhiên xác lập đó là một bệnh lý. Rất hợp lẽ khi nhiều người tự hỏi tại sao những nét tính cách thông thường lại bị định nghĩa như các triệu chứng của một chứng rối loạn y khoa. Các nhà phê bình cảnh báo rằng, chẳng bao lâu nữa, mọi đặc điểm của con người sẽ bị tái định nghĩa thành bệnh tật. Ấn bản tháng 2 năm 1997 của tạp chí Harper’s Magazine đã đăng một bài phê bình sắc sảo và đầy châm biếm của L. J. Davis về cuốn DSM IV. Davis viết rằng, theo các phương pháp chẩn đoán tâm thần hiện nay, “mọi khía cạnh trong đời sống con người (ngoại trừ tất nhiên là việc hành nghề tâm thần học) đều có thể được diễn giải như một bệnh lý.”
Thống kê từ Bộ Y tế Canada chỉ ra rằng lượng Ritalin tiêu thụ tại Canada vào năm 1997 đã tăng hơn gấp năm lần kể từ năm 1990, bao gồm cả mức nhảy vọt 21% trong năm cuối cùng của giai đoạn đó. Tại Hoa Kỳ, việc chẩn đoán ADD cũng đang lan rộng như cháy rừng. Liệu trẻ em có đang bị cho dùng thuốc chỉ để phục vụ sự tiện lợi của người lớn? Một số người lập luận rằng chẩn đoán này chỉ là một lời thoái thác y khoa khác được tạo ra để trấn an những bậc cha mẹ thiếu năng lực, những giáo viên lười biếng và những người lớn hay tự thương hại, quá thiếu chín chắn để đối mặt với nhu cầu của cuộc sống.
Ngay cả đối với tôi - người thừa nhận rằng chứng rối loạn thiếu chú ý (ADD) là có thật, bao gồm cả những khiếm khuyết về thần kinh lẫn tâm lý - vẫn có những câu hỏi chính đáng cần được đặt ra: về cách ADD được chẩn đoán, về cách nó nên được hiểu, và đặc biệt là về phương pháp điều trị. Xã hội Bắc Mỹ cố gắng chôn vùi nhiều vấn đề dưới hàng tấn thuốc, ưu tiên phớt lờ các nguyên nhân xã hội và văn hóa gây ra trạng thái tâm thần căng thẳng của con người. Những hậu quả xã hội lâu dài của việc lạm dụng thuốc trong điều trị trầm cảm, ADD và hàng loạt tình trạng khác vẫn chưa được làm rõ. Bản thân tôi cũng lo ngại về điều này, mặc dù tôi vẫn kê đơn thuốc cho người khác và chính tôi cũng đang sử dụng thuốc.
Nhiều người cũng cho rằng việc dùng các giải thích về sinh lý thần kinh để giải nghĩa cho hành vi là một cách bào chữa cho sai lầm của bản thân hoặc người khác, kiểu như đổ hết mọi lỗi lầm và khiếm khuyết cho “tại sinh học”. Họ đặt câu hỏi: Chẳng lẽ chúng ta không còn phải chịu trách nhiệm về những gì mình làm sao? Phải chăng mắc ADD là cái bằng chứng nhận để một người được quyền nuông chiều bản thân hoặc làm tổn thương người khác?
Gần đây tại British Columbia, các luật sư trong một vụ án hiếp dâm và giết người đã lập luận rằng thân chủ của họ không phải chịu trách nhiệm vì anh ta bị rối loạn cưỡng bức ám ảnh (OCD) và ADD. Một cách sáng suốt, bồi thẩm đoàn đã bác bỏ quan điểm đó. Tất cả chúng ta đều phải tự chịu trách nhiệm về hành động của mình, nếu không thế giới này sẽ loạn mất.
Tuy nhiên, sẽ là một bước tiến xã hội to lớn nếu chúng ta nỗ lực tìm hiểu xem những trải nghiệm nào đã biến con người thành những sinh thể lỗi lầm, vô trách nhiệm, hoặc thậm chí là phản xã hội. Khi đó, chúng ta sẽ tiếp cận vấn đề tội phạm theo một cách hoàn toàn khác. Việc chịu trách nhiệm không nhất thiết phải đi đôi với sự trừng phạt phi nhân tính của hệ thống pháp luật đang được thực hiện tại Canada và đặc biệt là tại Hoa Kỳ - quốc gia có tỷ lệ phạm nhân cao hơn bất kỳ quốc gia phương Tây nào khác. Có thể khẳng định rằng một tỉ lệ lớn tù nhân hiện nay mắc ADD hoặc các chứng rối loạn tự điều chỉnh có thể phòng ngừa được. Chắc chắn một điều rằng, điều kiện nhà tù hiện nay được thiết kế theo cách ác nghiệt nhất và làm trầm trọng thêm những rối loạn tâm thần này.
Chúng ta không hề bất lực trước ADD. Ở góc độ cá nhân, việc cố gắng đổ hết trách nhiệm cho những sai sót của mình lên các mạch não là một việc làm vô ích, nó chỉ khiến bạn bị giam hãm trong tâm thế của một nạn nhân. Bất kể các giải thích về thần kinh sinh lý có thuyết phục đến đâu, thì con cái, bạn đời hay đồng nghiệp của bạn cũng không có nghĩa vụ phải chấp nhận việc bạn thiếu tôn trọng hay làm tổn thương họ. Việc tìm hiểu về cơ chế tâm lý và sinh học của ADD giống như bạn có được một ‘tấm bản đồ’ về chính mình nhưng nó cũng chỉ là tấm bản đồ mà thôi. Tấm bản đồ giúp bạn không bị nản lòng trước những thất bại, nhưng đừng nhầm lẫn tấm bản đồ với cả hành trình. Việc vạch ra lộ trình và bước đi vẫn là ở chính mỗi người.
Nhiều bậc cha mẹ sợ thừa nhận con mình mắc ADD vì sợ con bị dán nhãn và phân loại. Họ không thích việc gắn một chẩn đoán y khoa lên một đứa trẻ đang “bình thường” về mọi mặt, trừ vài phương diện nào đó. Những nỗi sợ này hoàn toàn có cơ sở. Thông thường, cái mác ADD dường như chỉ là một lời phán xét rằng đứa trẻ đó là một “học sinh cá biệt” và không thể sinh hoạt bình thường. Cách chúng ta dùng ngôn ngữ đã bộc lộ điều đó: Mọi người hay gọi đứa trẻ đó cùng với cụm từ “Là ADD”. Đó chính là dán nhãn và đồng nhất toàn bộ con người trẻ với một khuyết điểm. Không ai “là ADD” cả, và không ai đáng bị định nghĩa hay phân loại dựa trên chứng bệnh này hay bất kỳ vấn đề nào khác.
Nhận diện một đứa trẻ mắc ADD đơn giản chỉ là một cách để chúng ta hiểu rằng: việc giúp đỡ trẻ cần đến những phương thức sáng tạo và có chuyên môn, chứ không phải là một lời phán xét rằng trẻ có điều gì đó sai trái về mặt bản chất hay không thể cứu vãn. Sự thừa nhận này giúp chúng ta hỗ trợ trẻ phát huy hết tiềm năng của mình chứ không phải để giới hạn trẻ thêm nữa.
Ngay cả những người có tư duy cởi mở nhất đôi khi cũng thấy khó chấp nhận chẩn đoán này, và đó là điều hoàn toàn dễ hiểu. Cách tư duy thông thường của chúng ta về bệnh tật vốn không thoải mái với sự mơ hồ. Một bệnh nhân hoặc là bị viêm phổi, hoặc là không; tinh thần của cô ấy hoặc là mắc bệnh, hoặc là không. Xã hội thường có tâm lý bất an với bất kỳ tình trạng tâm thần nào bị coi là bất thường, nhưng nếu bệnh tật không phải là một phạm trù riêng biệt thì sao? Nếu không có ranh giới phân định giữa “khỏe mạnh” và “không khỏe mạnh”? Nếu sự “bất thường” thực chất chỉ là việc một cá nhân tập trung nhiều hơn những biểu hiện rối loạn não bộ vốn luôn tồn tại trong tất cả chúng ta? Khi đó, có lẽ chẳng có chứng rối loạn não bộ nào là cố định và bất biến cả, và tất cả chúng ta đều có thể bị tổn thương, suy sụp hoặc gặp sự cố về tâm thần dưới áp lực của những hoàn cảnh căng thẳng. Tất cả chúng ta đều có thể phát điên. Có lẽ, chúng ta đã như vậy rồi.”





