Giới thiệu sách: Trong một thời đại mà cuộc sống cá nhân trở thành một loại hàng hóa để trưng bày, Jia Tolentino vốn kiên trì theo đuổi mục tiêu bóc tách những mâu thuẫn nực cười của văn hóa đại chúng Mỹ. Từ sự trỗi dậy của "nữ quyền thương mại" đến nỗi ám ảnh về việc tối ưu hóa bản thân trên Internet cho đến một ngày nọ, sự nhận ra rằng chính mình cũng là một phần của guồng máy ảo tưởng đã khiến mục tiêu của bà thay đổi, buộc bà phải đối mặt với sự thật trần trụi đằng sau những tấm gương soi. Tuy nhiên, hành trình tìm kiếm sự tỉnh táo này không hề dễ dàng bởi rào cản từ một hệ thống được thiết kế để gây nghiện và sự khó khăn khi phải phủ nhận những giá trị mà chúng ta hằng tin tưởng để đạt được sự thành công.
Ngay cả khi chúng ta trở nên ngày càng buồn bã và xấu xí trên Internet, ảo ảnh về cái tôi trực tuyến tốt đẹp hơn vẫn tiếp tục lung linh. Như một phương tiện truyền thông, Internet được định nghĩa bởi một động lực trình diễn nội tại. Trong đời thực, bạn có thể bước đi quanh cuộc đời và hiển hiện trước mắt người khác. Nhưng bạn không thể chỉ bước đi và hiển hiện trên Internet - để bất kỳ ai thấy được bạn, bạn phải hành động. Bạn phải giao tiếp để duy trì sự hiện diện trực tuyến. Và, bởi các nền tảng trung tâm của Internet được xây dựng quanh các hồ sơ cá nhân, nó có thể tạo ra cảm giác - trước hết ở mức độ cơ học, và sau đó là một bản năng được mã hóa - rằng mục đích chính của việc giao tiếp này là để làm cho bản thân bạn trông thật ổn. Các cơ chế khen thưởng trực tuyến chực chờ thay thế cho các cơ chế ngoại tuyến, rồi sau đó lấn át chúng. Đó là lý do tại sao ai ai cũng cố gắng trông thật nóng bỏng và đã đi du lịch thật nhiều trên Instagram; đó là lý do tại sao ai ai cũng có vẻ thật đắc thắng và thành đạt trên Facebook; đó là lý do tại sao, trên Twitter, việc đưa ra một tuyên bố chính trị đạo đức đã có vẻ như, đối với nhiều người, bản thân nó là một điều tốt đẹp về mặt chính trị.
Thói quen này thường được gọi là “phát tín hiệu đức hạnh” (virtue signaling), một thuật ngữ thường được phe bảo thủ sử dụng để chỉ trích phe tả. Nhưng phát tín hiệu đức hạnh là một hành động mang tính lưỡng đảng, thậm chí là phi chính trị. Twitter tràn ngập những lời thề trung thành kịch tính với Tu chính án thứ hai vốn có chức năng như việc phát tín hiệu đức hạnh nội bộ phe hữu, và nó cũng có thể là phát tín hiệu đức hạnh khi người ta đăng số điện thoại đường dây nóng tự sát sau cái chết của một người nổi tiếng. Chẳng mấy ai trong chúng ta hoàn toàn miễn nhiễm với thói quen này, vì nó giao thoa với một khao khát thực sự về sự liêm chính chính trị. Đăng những bức ảnh từ một cuộc biểu tịnh chống lại việc chia cắt gia đình ở biên giới, như tôi đã làm khi đang viết những dòng này, là một hành động có ý nghĩa siêu vi mô, một sự biểu đạt của nguyên tắc chân chính, và cũng, không thể tránh khỏi, là một nỗ lực nào đó để phát đi tín hiệu rằng tôi là người tốt.
Đẩy đến cực đoan, thói phát tín hiệu đức hạnh đã dẫn dắt những người thuộc phe tả tới những hành vi thực sự điên rồ. Một trường hợp điển hình xảy ra vào tháng 6 năm 2016, sau khi một đứa trẻ hai tuổi bị chết tại một khu nghỉ dưỡng của Disney - bị một con cá sấu lôi đi khi đang chơi đùa trong một đầm phá cấm bơi. Một người phụ nữ, vốn đã tích lũy được mười ngàn người theo dõi trên Twitter với những bài đăng về công bằng xã hội, đã nhìn thấy một cơ hội và đăng tin, một cách lộng lẫy: “Tôi đã quá mệt mỏi với sự đặc quyền của những người đàn ông da trắng đến mức tôi thực sự chẳng thấy buồn cho một đứa trẻ 2 tuổi bị cá sấu ăn thịt vì bố nó phớt lờ các biển báo.” (Sau đó cô ta bị hành hình bởi những người chọn cách chứng minh sự thượng đẳng về đạo đức của chính mình thông qua sự chế nhạo - hệt như cách tôi đang làm ở đây vậy.) Một dòng tweet tương tự đã lan truyền vào đầu năm 2018 sau khi một câu chuyện ngọt ngào được phát tán: một chú chim biển trắng lớn tên là Nigel đã chết bên cạnh con chim mồi bằng bê tông mà nó đã tận tụy gắn bó suốt nhiều năm. Một nhà văn phẫn nộ đã đăng: “Ngay cả những con chim bằng bê tông cũng chẳng nợ gì tình cảm của mày đâu, Nigel,” và viết một bài đăng dài trên Facebook tranh luận rằng sự ve vãn của Nigel với con chim giả là minh chứng cho... văn hóa cưỡng hiếp. “Tôi sẵn sàng viết góc nhìn nữ quyền về cái chết không-hề-bi-thảm của chú chim Nigel nếu có ai muốn trả tiền cho tôi,” cô ta nói thêm, bên dưới dòng tweet gốc vốn nhận được hơn một ngàn lượt thích. Những góc nhìn loạn trí này, và sự gần gũi gây lo ngại của chúng với việc kiếm tiền trực tuyến, là những nghiên cứu điển hình về cách mà thế giới của chúng ta - được trung gian bởi kỹ thuật số, bị nuốt chửng hoàn toàn bởi chủ nghĩa tư bản - khiến cho việc giao tiếp về đạo đức trở nên rất dễ dàng nhưng khiến cho việc sống đạo đức thực sự trở nên rất khó khăn. Bạn sẽ chẳng bao giờ dùng một bản tin về một đứa trẻ mới biết đi đã chết làm cái cớ để nói về đặc quyền của người da trắng nếu không có một xã hội mà trong đó diễn ngôn về sự chính nghĩa chiếm lĩnh sự chú ý của công chúng nhiều hơn hẳn so với những điều kiện thực tế đòi hỏi sự chính nghĩa ngay từ đầu.
Ở phe hữu, màn trình diễn trực tuyến về căn tính chính trị thậm chí còn hoang dại hơn. Năm 2017, nhóm bảo thủ trẻ am hiểu mạng xã hội Turning Point USA đã tổ chức một cuộc biểu tình tại Đại học Bang Kent với một sinh viên mặc tã để chứng minh rằng “các không gian an toàn chỉ dành cho lũ trẻ con.” (Nó đã lan truyền đúng như ý muốn, nhưng không theo cách mà TPUSA mong đợi - cuộc biểu tình bị chế giễu đồng loạt, với một người dùng Twitter dán logo của trang web khiêu dâm Brazzers lên bức ảnh của chàng trai mặc tã, và điều phối viên cơ sở của TPUSA tại Bang Kent đã phải từ chức.) Nó cũng gây ra những hệ quả lớn lao vô cùng, bắt đầu từ năm 2014, với một chiến dịch đã trở thành khuôn mẫu cho hành động chính trị-Internet của phe cánh hữu, khi một nhóm lớn những kẻ ghét phụ nữ trẻ tuổi cùng tập hợp lại trong sự kiện giờ đây được biết đến với cái tên Gamergate.
Vấn đề thực sự, theo bề nổi, là một nữ thiết kế trò chơi bị cho là đã ngủ với một nhà báo để có được những bài viết thuận lợi. Cô, cùng với một nhóm các nhà phê bình trò chơi nữ quyền và các nhà văn, đã phải nhận lấy một trận cuồng phong những lời đe dọa cưỡng hiếp, đe dọa giết người và các hình thức quấy rối khác, tất thảy đều được che đậy dưới ngọn cờ của quyền tự do ngôn luận và “đạo đức trong báo chí trò chơi.” Những kẻ tham gia Gamergate - được Deadspin ước tính con số lên tới khoảng mười ngàn người - hầu hết đều phủ nhận sự quấy rối này, hoặc là nhại lại với ý đồ xấu hoặc tự huyễn hoặc mình tin vào lập luận rằng Gamergate thực sự là về những lý tưởng cao đẹp. Gawker Media, công ty mẹ của Deadspin, bản thân nó cũng trở thành một mục tiêu, một phần vì sự khinh miệt hung hăng của chính nó đối với những kẻ Gamergate: công ty đã mất đi doanh thu bảy con số sau khi các nhà quảng cáo của họ bị kéo vào vòng xoáy hỗn loạn.
Năm 2016, một vụ lùm xùm tương tự đã lên bản tin quốc gia trong vụ Pizzagate, sau khi một vài kẻ cư dân mạng cuồng tín quyết định rằng họ đã tìm thấy những thông điệp mã hóa về nô lệ tình dục trẻ em trong quảng cáo của một tiệm pizza liên quan đến chiến dịch của Hillary Clinton. Thuyết này được phát tán khắp Internet cực hữu, dẫn đến một cuộc tấn công kéo dài nhắm vào tiệm pizza Comet Ping Pong ở DC và tất cả những ai liên quan đến nhà hàng - tất cả dưới danh nghĩa chống lại nạn ấu dâm - mà đỉnh điểm là một người đàn ông đã bước vào Comet Ping Pong và nổ súng. (Về sau, chính phe nhóm đó đã nhảy ra bảo vệ Roy Moore, ứng cử viên Đảng Cộng hòa cho ghế Thượng viện, người bị cáo buộc tấn công tình dục trẻ vị thành niên.) Phe tả “thức tỉnh” quá mức cũng chỉ có thể mơ về khả năng vũ khí hóa cảm giác chính nghĩa như thế này. Ngay cả phong trào chống phát xít quân phiệt, được gọi là antifa, cũng thường xuyên bị những người theo chủ nghĩa tự do trung dung ruồng rẫy, bất chấp thực tế là phong trào antifa bắt nguồn từ một truyền thống kháng chiến chống phát xít lâu đời của châu Âu thay vì một chùm những diễn đàn tin nhắn và kênh YouTube hoang tưởng cực đoan mới chớm nở. Thế giới quan của những kẻ Gamergate và Pizzagate đã được hiện thực hóa và phần lớn được minh xác trong cuộc bầu cử năm 2016 - một sự kiện gợi ý mạnh mẽ rằng những điều tồi tệ nhất về Internet giờ đây đang quyết định, thay vì phản chiếu, những điều tồi tệ nhất về đời thực ngoại tuyến.
Truyền thông đại chúng luôn quyết định hình hài của chính trị và văn hóa. Thời đại Bush không thể tách rời khỏi những thất bại của tin tức truyền hình cáp; những sự lạm quyền của những năm Obama đã bị che mờ bởi sự phóng đại của Internet về nhân cách và màn trình diễn; sự trỗi dậy quyền lực của Trump không thể tách rời khỏi sự tồn tại của các mạng xã hội vốn phải liên tục chọc giận người dùng của họ để tiếp tục kiếm tiền. Nhưng dạo gần đây tôi cứ tự hỏi làm thế nào mà mọi thứ lại trở nên tồi tệ một cách riêng tư như thế, và tại sao, chính xác là vậy, chúng ta cứ tiếp tục hùa theo cuộc chơi. Làm thế nào mà một lượng lớn con người bắt đầu dành phần lớn thời gian rảnh rỗi đang dần biến mất của mình trong một môi trường tra tấn công khai như thế? Làm thế nào mà Internet lại trở nên tồi tệ đến vậy, giam cầm đến vậy, mang tính cá nhân không thể thoát khỏi đến vậy, mang tính quyết định chính trị đến vậy - và tại sao tất cả những câu hỏi đó đều đang hỏi cùng một điều?
Tôi phải thừa nhận rằng tôi không chắc liệu cuộc truy vấn này có mang lại kết quả gì không. Internet nhắc nhở chúng ta hằng ngày rằng chẳng có gì là bổ béo khi nhận thức được những vấn đề mà bạn chẳng có hy vọng hợp lý nào để giải quyết. Và, quan trọng hơn, Internet vốn dĩ đã là chính nó rồi. Nó đã trở thành cơ quan trung tâm của đời sống đương đại. Nó đã tái lập trình bộ não của người dùng, đưa chúng ta trở lại trạng thái tỉnh giác thái quá và xao nhãng sơ khai trong khi lại chất chồng lên chúng ta nhiều đầu vào giác quan hơn mức có thể ở thời tiền sử. Nó đã xây dựng nên một hệ sinh thái vận hành bằng việc khai thác sự chú ý và thương mại hóa cái tôi. Ngay cả khi bạn tránh xa Internet hoàn toàn - bạn đời của tôi làm thế: anh ấy đã từng nghĩ #tbt nghĩa là “truth be told” (sự thật là) suốt một thời gian dài - bạn vẫn sống trong thế giới mà Internet này đã tạo ra, một thế giới mà trong đó bản ngã đã trở thành nguồn tài nguyên thiên nhiên cuối cùng của chủ nghĩa tư bản, một thế giới mà các điều khoản của nó được thiết lập bởi các nền tảng tập trung vốn đã cố tình xây dựng mình thành những thực thể gần như không thể điều tiết hay kiểm soát.
Internet cũng phần lớn không thể tách rời khỏi những niềm vui của cuộc sống: bạn bè, gia đình, cộng đồng, sự mưu cầu hạnh phúc của chúng ta, và - đôi khi, nếu chúng ta may mắn - cả công việc của chúng ta nữa. Một phần vì khát khao bảo tồn những gì đáng giá khỏi sự thối rữa đang bao vây nó, tôi đã suy ngẫm về năm vấn đề giao thoa: thứ nhất, cách Internet được xây dựng để làm giãn nở cảm quan về căn tính của chúng ta; thứ hai, cách nó khuyến khích chúng ta đánh giá quá cao ý kiến của mình; thứ ba, cách nó tối đa hóa cảm giác đối lập của chúng ta; thứ tư, cách nó làm rẻ rúng sự thấu hiểu của chúng ta về tình đoàn kết; và, cuối cùng, cách nó phá hủy cảm quan về quy mô của chúng ta.
Năm 1959, nhà xã hội học Erving Goffman đã đưa ra một lý thuyết về căn tính xoay quanh việc đóng kịch. Trong mọi tương tác giữa con người với con người, ông viết trong cuốn The Presentation of Self in Everyday Life (Sự trình diễn bản thân trong đời sống thường nhật), một cá nhân phải thực hiện một loại màn trình diễn, tạo ra một ấn tượng cho khán giả. Màn trình diễn có thể được tính toán kỹ lưỡng, như với người đàn ông trong một cuộc phỏng vấn xin việc đã thực hành mọi câu trả lời; nó có thể là vô thức, như với người đàn ông đã trải qua quá nhiều cuộc phỏng vấn đến mức anh ta trình diễn một cách tự nhiên như mong đợi; nó có thể là tự động, như với người đàn ông tạo ra ấn tượng đúng đắn chủ yếu vì anh ta là một người đàn ông da trắng thuộc tầng lớp trung lưu thượng lưu với tấm bằng MBA. Một người trình diễn có thể hoàn toàn bị mê hoặc bởi màn trình diễn của chính mình - anh ta có thể thực sự tin rằng khiếm khuyết lớn nhất của mình là “chủ nghĩa hoàn hảo” - hoặc anh ta có thể biết rằng màn kịch của mình là một sự giả tạo. Nhưng dù thế nào đi nữa, anh ta vẫn đang trình diễn. Ngay cả khi anh ta ngừng cố gắng trình diễn, anh ta vẫn có một khán giả, hành động của anh ta vẫn tạo ra một hiệu ứng. “Tất nhiên không phải toàn thế giới là một sân khấu, nhưng những cách quan trọng mà nó không phải là sân khấu thì thật không dễ để chỉ ra,” Goffman viết.
Để truyền đạt một căn tính đòi hỏi một mức độ tự lừa dối nhất định. Một người trình diễn, để trở nên thuyết phục, phải che giấu “những sự thật gây mất uy tín mà anh ta đã phải học về màn trình diễn; nói theo cách thông thường, sẽ có những điều anh ta biết, hoặc đã từng biết, mà anh ta sẽ không thể tự nói với chính mình.” Người được phỏng vấn, chẳng hạn, tránh nghĩ về việc khuyết điểm lớn nhất của anh ta thực chất là việc uống rượu tại văn phòng. Một người bạn ngồi đối diện với bạn trong bữa tối, được yêu cầu đóng vai nhà trị liệu cho những rắc rối tình cảm vụn vặt của bạn, phải giả vờ với chính mình rằng cô ấy thà đi về nhà và lên giường đọc sách của Barbara Pym còn hơn. Chẳng cần khán giả nào phải hiện diện về mặt vật lý để một người trình diễn tham gia vào loại che giấu có chọn lọc này: một người đàn bà, ở nhà một mình vào cuối tuần, có thể cọ rửa gạch chân tường và xem phim tài liệu thiên nhiên ngay cả khi cô ấy thà làm loạn nơi đó, mua một gói ma túy, và tổ chức một cuộc truy hoan từ Craigslist. Con người ta thường làm những bộ mặt, trong sự riêng tư, trước gương phòng tắm, để thuyết phục bản thân về sự hấp dẫn của chính mình. Sự “tin tưởng sống động rằng một khán giả vô hình đang hiện diện,” Goffman viết, có thể có một hiệu ứng đáng kể.
Ngoại tuyến, có những hình thức giải tỏa được xây dựng sẵn trong quá trình này. Khán giả thay đổi - màn trình diễn bạn dàn dựng trong cuộc phỏng vấn xin việc khác với màn trình diễn bạn dàn dựng ở nhà hàng sau đó cho sinh nhật một người bạn, vốn lại khác với màn trình diễn bạn dàn dựng cho người bạn đời ở nhà. Ở nhà, bạn có thể cảm thấy như thể mình có thể ngừng trình diễn hoàn toàn; trong khuôn khổ kịch nghệ của Goffman, bạn có thể cảm thấy như mình đã vào được phía sau cánh gà. Goffman quan sát thấy rằng chúng ta cần cả một khán giả để chứng kiến những màn trình diễn của mình cũng như một khu vực sau cánh gà nơi chúng ta có thể thư giãn, thường là trong sự đồng hành của những “đồng đội” đã trình diễn cùng chúng ta. Hãy nghĩ về những đồng nghiệp ở quán bar sau khi họ vừa thực hiện một buổi chào hàng lớn, hoặc một cô dâu và chú rể trong phòng khách sạn của họ sau tiệc cưới: mọi người có thể vẫn đang trình diễn, nhưng họ cảm thấy thoải mái, không phòng bị, một mình. Lý tưởng nhất là khán giả bên ngoài đã tin vào màn trình diễn trước đó. Các khách mời đám cưới nghĩ rằng họ thực sự vừa thấy một cặp đôi mới cưới hoàn mỹ, hạnh phúc, và những người ủng hộ tiềm năng nghĩ rằng họ đã gặp một nhóm thiên tài sắp làm cho tất cả mọi người trở nên rất giàu có. “Nhưng sự quy gán này - cái tôi này - là sản phẩm của một cảnh huống diễn ra thành công, chứ không phải là nguyên nhân của nó,” Goffman viết. Cái tôi không phải là một thứ hữu cơ cố định, mà là một hiệu ứng kịch tính nảy sinh từ một màn trình diễn. Hiệu ứng này có thể được tin tưởng hay không tin tưởng tùy ý.
Trực tuyến - giả sử bạn chấp nhận khuôn khổ này - hệ thống này di căn thành một đống đổ nát. Sự trình diễn bản thân trong đời sống Internet thường nhật vẫn tương ứng với ẩn dụ đóng kịch của Goffman: có những sân khấu, có khán giả. Nhưng Internet thêm vào một loạt các cấu trúc ẩn dụ ác mộng khác: chiếc gương, tiếng vang, nhà tù toàn thị (panopticon). Khi chúng ta di chuyển trên mạng, dữ liệu cá nhân của chúng ta bị theo dõi, ghi lại và bán lại bởi một loạt các tập đoàn - một chế độ giám sát công nghệ cưỡng chế, vốn làm giảm đi sự phản kháng của chúng ta một cách tiềm thức đối với thói quen tự giám sát tự nguyện trên mạng xã hội. Nếu chúng ta nghĩ đến việc mua thứ gì đó, nó sẽ theo chân chúng ta đi khắp mọi nơi. Chúng ta có thể, và có lẽ là làm thế thật, giới hạn hoạt động trực tuyến của mình vào những trang web củng cố thêm cảm quan về căn tính của chính mình, mỗi người chúng ta đọc những thứ được viết cho những người giống hệt như mình. Trên các nền tảng mạng xã hội, mọi thứ chúng ta thấy đều tương ứng với những lựa chọn có ý thức và những sở thích được hướng dẫn bởi thuật toán, và tất cả tin tức, văn hóa cùng tương tác cá nhân đều được lọc qua căn cứ địa của hồ sơ cá nhân. Sự điên rồ hằng ngày được duy trì bởi Internet chính là sự điên rồ của kiến trúc này, vốn đặt căn tính cá nhân vào trung tâm của vũ trụ. Nó hệt như thể chúng ta được đặt trên một đài quan sát nhìn ra toàn thế giới và được trao cho một chiếc ống nhòm khiến mọi thứ trông giống như sự phản chiếu của chính chúng ta. Thông qua mạng xã hội, nhiều người đã nhanh chóng tiến tới việc xem tất cả thông tin mới như một loại bình luận trực tiếp về việc họ là ai.
Hệ thống này tồn tại bền bỉ bởi vì nó mang lại lợi nhuận.



